Let’s travel together.

Những truyền thuyết về vị vua Triệu Việt Vương

341

Triệu Việt Vương (?-571), tên thật là Triệu Quang Phục. Ông là con của Thái phó Triệu Túc, người huyện Chu Diên. Ông được sử sách mô tả là người uy tráng dũng liệt. Ông cùng cha theo Lý Nam Đế khởi nghĩa từ ngày đầu (541), có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được trao chức Tả tướng quân nước Vạn Xuân.

Tháng 5 năm 545, quân Lương do Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy lại sang đánh Vạn Xuân. Lý Nam Đế giao chiến bất lợi. Năm 546, sau khi Lý Nam Đế thua trận phải lui về động Khuất Lão, đã ủy thác cho ông giữ việc nước, điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà Lương

Năm 550, Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày để làm cho quân của ông lương hết, quân mệt mỏi thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về, ủy cho tì tướng là Dương Sàn ở lại. Ông tung quân ra đánh. Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về bắc.

Chia nước với họ Lý và mất nước

Thắng trận, Triệu Việt Vương làm vua nước Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Uyên.

Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo, vốn đã bị Trần Bá Tiên đánh bại, chạy vào ở đất của người Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng. Năm 555, Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối, quân chúng suy tôn người cháu là Lý Phật tử lên nối ngôi, thống lĩnh quân chúng.

Năm 557, Lý Phật tử đem quân xuống miền Đông đánh nhau với Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình. Hai bên năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại. Quân của Lý Phật tử có phần thất thế, bèn xin giảng hòa. Ông nghĩ rằng Lý Phật tử là người trong họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần cho ở phía tây của nước, Lý Phật tử dời đến thành Ô Diên.

Lý Phật tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy con gái của ông là Cảo Nương. Ông bằng lòng, kết thành thông gia. Ông yêu quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể. Theo đánh giá của các sử gia, cuộc xung đột giữa họ Triệu và họ Lý cho thấy tuy đã đánh thắng được quân Lương nhưng Triệu Việt Vương không kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ Vạn Xuân để huy động lực lượng áp đảo được họ Lý.

Năm 571, Lý Phật tử đem quân đánh úp Triệu Việt Vương. Bị đánh bất ngờ, Triệu Việt Vương ra quân trong thế bị động, không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía nam, tìm nơi đất hiểm để ẩn náu, nhưng đến đâu cũng bị quân của Lý Phật tử đuổi theo sát gót. Ông cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, bị nước chắn, bèn nhảy xuống biển tự vẫn. Từ đó họ Triệu mất nước.

Truyền thuyết

1) Trong sử sách cổ đại có nói rằng nguyên nhân được thua của ông là do được và mất mũ đầu mâu móng rồng. Thực ra, đó chỉ là huyền thoại. Truyện kể như sau:

Năm 549, ông ở trong đầm thấy quân Lương không lui, mới đốt hương cầu đảo, khẩn thiết kinh cáo với trời đất thần kỳ, thế rồi có điềm lành được mũ đâu mâu móng rồng dùng để đánh giặc. Từ đó quân thanh lừng lẫy, đến đâu không ai địch nổi (tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời xuống, rút móng rồng trao cho ông, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc). Năm 557, con gái của Triệu Quang Phục lấy con trai của Lý Phật tử là Nhã Lang. Năm 570, Nhã Lang nói với vợ rằng: “Trước hai vua cha chúng ta cừu thù với nhau, nay là thông gia, chẳng cũng hay lắm ư? Nhưng cha nàng có thuật gì mà có thể làm lui được quân của cha tôi?”. Cảo Nương không biết ý của chồng, bí mật lấy mũ đâu mâu móng rồng cho xem. Nhã Lang mưu ngầm tráo đổi cái móng ấy, rồi bảo riêng với Cảo Nương rằng: “Tôi nghĩ ơn sâu của cha mẹ nặng bằng trời đất, vợ chồng ta hòa nhã yêu quý nhau không nỡ xa cách, nhưng tôi phải tạm dứt tình, về thăm cha mẹ”. Nhã Lang về, cùng với cha bàn mưu đánh úp, chiếm được nước.

Theo Ngô Sĩ Liên: Đàn bà gọi việc lấy chồng là “quy” thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?

Truyện này giống như truyền thuyết Mỵ Châu-Trọng Thủy thời Triệu Đà đánh An Dương Vương. Các sử gia nhà Nguyễn nhận xét về truyền thuyết này trong sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục như sau:

Sử cũ chép việc Triệu Việt vương được cái móng rồng của Chử Đồng Tử cho; việc Nhã Lang sang gửi rể rồi lấy trộm móng rồng; việc Triệu Việt vương vì mất cái móng rồng mà bị thua. Đem những việc ấy kháp với chuyện Thục An Dương vương và Triệu Trọng Thủy trước kia giống nhau như hệt, kỳ quái trái thường không cần phải biện bạch cho lắm. Nhưng Sử cũ chép phần nhiều trùng điệp nhau, sai hẳn sự thực, đại loại như thế đấy. Nay muốn tìm ở Sử cũ lấy chuyện có thể tin ở đời này và truyền lại đời sau, thật cũng khó lắm.

Theo Đại Nam Quốc sử Diễn ca, Trương Hống và Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gả Cảo Nương cho Nhã Lang:

Có người: Hống, Hát họ Trương
Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu,
Rằng: “Xưa Trọng Thuỷ, Mỵ Châu,
Hôn nhân là giả, khấu thù là chân.
Mảnh gương vãng sự còn gần,
Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?

 

2) Từ một giấc mơ gặp được người trong mộng

Giống như các bậc vua chúa khác, Triệu Việt Vương cũng có nhiều vợ nhưng để lại dấu ấn lớn nhất đối với ông chính là Đệ tứ cung phi Ngọc Nương, một người mà tình duyên của họ đến từ trong giấc mộng.

Theo dã sử và thần tích xã Trâm Nhị (nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên) thì Ngọc Nương tên thật là Nguyễn Thị Ngọc, sinh ngày 15 tháng 7 năm Đinh Tỵ, cha là Nguyễn Bộ, vốn dòng dõi hào trưởng ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa), mẹ là Đặng Thị Châu (thường gọi là Châu Nương), quê ở giáp Đường, trang Đặng Xá, huyện Đường Hào, xứ Đông Hải (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).

Tương truyền rằng một đêm bà Châu Nương nằm ngủ, mộng thấy bay lên trời, đến cung Quảng bẻ được một cành quế đỏ và hái được một bông hoa lan, giật mình tỉnh dậy biết là nằm mộng, sau đó có thai rồi sinh được một người con trai tướng mạo hùng vĩ, khác thường đặt tên là Nguyễn Chiêu (thường gọi là Chiêu Công).

2 năm sau, bà Châu Nương lại có mang, trước khi chuyển dạ chợt thấy một con chim xanh bay vào trong phòng màu sắc sặc sỡ, kêu lên 3 tiếng rồi bay mất, kế đó sinh ra một bé gái xinh xắn, đặt tên là Nguyễn Thị Ngọc (thường gọi là Ngọc Nương).

Từ nhỏ cho đến khi trưởng thành, Chiêu Công đã nổi tiếng văn hay, võ giỏi, nhiều người theo phục; còn Ngọc Nương thông minh học một biết mười, đức hạnh và nữ công không gì không có, là một thiếu nữ nhan sắc khuynh thành.

Lại nói về Triệu Việt Vương, sau khi quét sạch giặc ngoại xâm, ông đi thăm một số vùng miền để tìm hiểu đời sống dân chúng. Một hôm xa giá ngự đến huyện Đường Hào thì dừng lại nghỉ ngơi, đêm ấy, vua nằm mơ thấy có một nam, một nữ đến nói là hai anh em ruột quê ở Bảo Đài đến xin giúp nước, anh tên là Chiêu, em tên là Ngọc.

Sáng hôm sau, Triệu Việt Vương đến giáp Đường, trang Đặng Xá thì người dân kéo đến đầy đường để bái chào và xem mặt vua, Ngọc Nương cũng tò mò ra xem. Trong đám đông ấy, vua bất chợt nhìn thấy một cô gái dung mạo giống hệt người trong mộng đêm trước bèn gọi đến hỏi chuyện.

Khi Ngọc Nương trả lời cho biết tên họ, quê quán, Triệu Việt Vương vừa vui mừng vừa kinh ngạc không rõ đây có phải là cô gái trong giấc mơ của mình không, ông liền hỏi: “Phải chăng nhà nàng còn có một người anh tên là Chiêu?”.

Lúc này thì đến lượt Ngọc Nương ngạc nhiên trả lời đúng là có người anh như vậy, nhà vua liền cho truyền gọi Chiêu Công đến thì thấy giống hệt người thanh niên trong mộng. Cho là điềm báo tốt lành, Triệu Việt Vương ban thưởng cho dân trang Đặng Xá 3.000 quan tiền và nói với mọi người rằng:

“Chiêu Công, Ngọc Nương thực là thần nhân chốn nhân gian, được trời cho giáng xuống ở đất này, nay trẫm ban thưởng cho dân chúng được làm hộ nhi nơi Chiêu Công ở”.

Sau đó, vua cho 2 người đi theo về kinh rồi phong Chiêu Công làm Quản lĩnh thủy bộ tướng quân, còn Ngọc Nương được phong làm Đệ tứ cung phi, mỹ hiệu là Xuân Hoa.

Trước khi theo vua, 2 anh em về nhà lạy tạ cha mẹ, sửa sang nhà cửa, ban tặng vàng bạc cho người dân xây dựng một hành cung để có chỗ nghỉ ngơi mỗi khi trở lại thăm quê.

Mấy năm sau, giặc Lương cho quân xâm lấn biên cương, Triệu Việt Vương tin tưởng phong cho Chiêu Công chức Thái úy đứng đầu quan võ và kiêm chức Nguyên soái bình Lương đại tướng quân đem binh tướng chống giặc.

Tại địa đầu biên giới, Chiêu Công chỉ huy quân lính đánh bại quân xâm lược, hơn 10 tướng giặc bị chém rơi đầu, hàng nghìn tên giặc phải bỏ mạng; còn Ngọc Nương vừa hầu hạ vua nơi màn trướng lại vừa động viên các họ tộc Lê, Nguyễn, Trần, Vũ, Trịnh, Phạm, Đỗ, Đặng, Hoàng, Đinh ở trang Đặng Xá đưa con em mình tòng quân giữ nước.

Sau chiến thắng, vì lập công to, Chiêu Công được Triệu Việt Vương phong tước Triết Gia quân công.

Ngoại xâm bị dẹp chưa được bao lâu thì nội chiến xảy ra, sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, một người trong họ của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đem quân đánh Triệu Việt Vương để giành ngôi vua về cho họ Lý.

Hai bên hỗn chiến giao tranh hàng năm trời không phân thắng bại, nhưng rồi nhờ quân hùng và có các tướng giỏi như Chiêu Công, Trương Hống, Trương Hát…, lại có móng rồng thần diệu mà Triệu Việt Vương chiếm ưu thế.

Biết không thể thắng, Lý Phật Tử bèn dùng mưu, cho quân mang lễ vật đến xin hòa và muốn kết tình thông. Biết được ý đồ đó, Chiêu Công can vua rằng:

“Nay 2 bên tranh nước, long hổ giành nhau, họ bỗng đem cống vật đến cầu hòa, sự này không thể tin được!”, các quan tướng trong triều cũng khuyên vua nên đề phòng, nhưng Triệu Việt Vương không nghe vẫn quyết định gả con gái Cảo Nương cho con trai của Lý Phật Tử là Nhã Lang.

Buồn phiền, Chiêu Công bèn xin cáo quan về quê dành thời gian chăm sóc cha mẹ cho đến khi khuất núi, lại nghĩ đời có thịnh, có suy, xét thấy vua thì nhân từ ái mực còn Lý Phật Tử nhiều mưu mô, tất có ngày binh đao xảy ra, vì thế ông bỏ tiền của chiêu mộ gia thần, rèn đúc vũ khí, tích trữ lương thực phòng khi nước có biến sẽ dốc sức cứu giúp.

Còn Ngọc Nương, sống trong cung cấm, được vua sủng ái nhưng suốt 10 năm liền nhưng không sinh được người con nào bèn xin xuất gia tu Phật, Triệu Việt Vương biết khó giữ được người đẹp đành đồng ý cho nàng về quê gốc ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái tu hành tại một ngôi chùa.

Ít lâu sau, vua lại cấp tiền bạc cho Ngọc Nương sửa sang ngôi chùa ở giáp Đường, trang Đặng Xá để làm nơi tu hành, lại còn truyền đặt pháp hiệu là Diệu Phương, tên tự là Pháp Tuân.

Năm Canh Dần (570), Triệu Việt Vương do chủ quan không phòng bị, khi quân của Lý Phật Tử tiến đánh đã thua trận nhanh chóng, ông chạy đến cửa biển Đại Nha thì tự tử.

Bấy giờ Chiêu Công nghe tin vua thua trận vội vã dẫn gần 2000 quân binh đến cứu giá, tới nơi thì nghe tin Triệu Việt Vương đã mất lại bị số đông quân của Lý Phật Tử bao vây, thế lực yếu không thể chống đỡ nổi, Chiêu Công liền gieo mình xuống sông Hồng tuẫn tiết. Cảm động về vị trung thần tiết nghĩa, sau này, nhân dân đã lập đền thờ Chiêu Công nay tại nơi ông mất.

Còn Ngọc Nương, dù ở chốn cửa thiền, xa rời cuộc sống trần tục nhưng bà vẫn quan tâm đến tình hình đất nước, nghe tin chồng rồi anh đều mất, lòng đau xót vô cùng bèn tắm gội sạch sẽ, ngồi tụng kinh niệm Phật sau đó uống thuốc độc tự vẫn mà chết, người dân giáp Đường thương tiếc người phụ nữ trung trinh đã tổ chức an táng chu đáo, lại dựng miếu thờ cúng.

Đến thời Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân có làm lễ khấn tại nơi thờ anh em Chiêu Công, Ngọc Nương xin âm phù thắng trận thấy linh ứng.

Sau khi nhà Đinh thành lập, tướng Đinh Điền dâng sớ tâu xin phong mỹ tự cho 2 thần, vua Đinh Tiên Hoàng đã sắc phong cho Chiêu Công làm Thượng đẳng phúc thần, hiệu là Phong Hiển linh ứng thông, Chiêu Thánh đô úy khang tiết đại vương; Ngọc Nương là Đoan Trinh quảng đức Diệu Phương, Pháp Tuấn từ bi Xuân Hoa công chúa”.Từ một giấc mơ gặp được người trong mộng

Giống như các bậc vua chúa khác, Triệu Việt Vương cũng có nhiều vợ nhưng để lại dấu ấn lớn nhất đối với ông chính là Đệ tứ cung phi Ngọc Nương, một người mà tình duyên của họ đến từ trong giấc mộng.

Theo dã sử và thần tích xã Trâm Nhị (nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên) thì Ngọc Nương tên thật là Nguyễn Thị Ngọc, sinh ngày 15 tháng 7 năm Đinh Tỵ, cha là Nguyễn Bộ, vốn dòng dõi hào trưởng ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa), mẹ là Đặng Thị Châu (thường gọi là Châu Nương), quê ở giáp Đường, trang Đặng Xá, huyện Đường Hào, xứ Đông Hải (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).

Tương truyền rằng một đêm bà Châu Nương nằm ngủ, mộng thấy bay lên trời, đến cung Quảng bẻ được một cành quế đỏ và hái được một bông hoa lan, giật mình tỉnh dậy biết là nằm mộng, sau đó có thai rồi sinh được một người con trai tướng mạo hùng vĩ, khác thường đặt tên là Nguyễn Chiêu (thường gọi là Chiêu Công).

2 năm sau, bà Châu Nương lại có mang, trước khi chuyển dạ chợt thấy một con chim xanh bay vào trong phòng màu sắc sặc sỡ, kêu lên 3 tiếng rồi bay mất, kế đó sinh ra một bé gái xinh xắn, đặt tên là Nguyễn Thị Ngọc (thường gọi là Ngọc Nương).

Từ nhỏ cho đến khi trưởng thành, Chiêu Công đã nổi tiếng văn hay, võ giỏi, nhiều người theo phục; còn Ngọc Nương thông minh học một biết mười, đức hạnh và nữ công không gì không có, là một thiếu nữ nhan sắc khuynh thành.

Lại nói về Triệu Việt Vương, sau khi quét sạch giặc ngoại xâm, ông đi thăm một số vùng miền để tìm hiểu đời sống dân chúng. Một hôm xa giá ngự đến huyện Đường Hào thì dừng lại nghỉ ngơi, đêm ấy, vua nằm mơ thấy có một nam, một nữ đến nói là hai anh em ruột quê ở Bảo Đài đến xin giúp nước, anh tên là Chiêu, em tên là Ngọc.

Sáng hôm sau, Triệu Việt Vương đến giáp Đường, trang Đặng Xá thì người dân kéo đến đầy đường để bái chào và xem mặt vua, Ngọc Nương cũng tò mò ra xem. Trong đám đông ấy, vua bất chợt nhìn thấy một cô gái dung mạo giống hệt người trong mộng đêm trước bèn gọi đến hỏi chuyện.

Khi Ngọc Nương trả lời cho biết tên họ, quê quán, Triệu Việt Vương vừa vui mừng vừa kinh ngạc không rõ đây có phải là cô gái trong giấc mơ của mình không, ông liền hỏi: “Phải chăng nhà nàng còn có một người anh tên là Chiêu?”.

Lúc này thì đến lượt Ngọc Nương ngạc nhiên trả lời đúng là có người anh như vậy, nhà vua liền cho truyền gọi Chiêu Công đến thì thấy giống hệt người thanh niên trong mộng. Cho là điềm báo tốt lành, Triệu Việt Vương ban thưởng cho dân trang Đặng Xá 3.000 quan tiền và nói với mọi người rằng:

“Chiêu Công, Ngọc Nương thực là thần nhân chốn nhân gian, được trời cho giáng xuống ở đất này, nay trẫm ban thưởng cho dân chúng được làm hộ nhi nơi Chiêu Công ở”.

Sau đó, vua cho 2 người đi theo về kinh rồi phong Chiêu Công làm Quản lĩnh thủy bộ tướng quân, còn Ngọc Nương được phong làm Đệ tứ cung phi, mỹ hiệu là Xuân Hoa.

Trước khi theo vua, 2 anh em về nhà lạy tạ cha mẹ, sửa sang nhà cửa, ban tặng vàng bạc cho người dân xây dựng một hành cung để có chỗ nghỉ ngơi mỗi khi trở lại thăm quê.

Mấy năm sau, giặc Lương cho quân xâm lấn biên cương, Triệu Việt Vương tin tưởng phong cho Chiêu Công chức Thái úy đứng đầu quan võ và kiêm chức Nguyên soái bình Lương đại tướng quân đem binh tướng chống giặc.

Tại địa đầu biên giới, Chiêu Công chỉ huy quân lính đánh bại quân xâm lược, hơn 10 tướng giặc bị chém rơi đầu, hàng nghìn tên giặc phải bỏ mạng; còn Ngọc Nương vừa hầu hạ vua nơi màn trướng lại vừa động viên các họ tộc Lê, Nguyễn, Trần, Vũ, Trịnh, Phạm, Đỗ, Đặng, Hoàng, Đinh ở trang Đặng Xá đưa con em mình tòng quân giữ nước.

Sau chiến thắng, vì lập công to, Chiêu Công được Triệu Việt Vương phong tước Triết Gia quân công.

Ngoại xâm bị dẹp chưa được bao lâu thì nội chiến xảy ra, sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, một người trong họ của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đem quân đánh Triệu Việt Vương để giành ngôi vua về cho họ Lý.

Hai bên hỗn chiến giao tranh hàng năm trời không phân thắng bại, nhưng rồi nhờ quân hùng và có các tướng giỏi như Chiêu Công, Trương Hống, Trương Hát…, lại có móng rồng thần diệu mà Triệu Việt Vương chiếm ưu thế.

Biết không thể thắng, Lý Phật Tử bèn dùng mưu, cho quân mang lễ vật đến xin hòa và muốn kết tình thông. Biết được ý đồ đó, Chiêu Công can vua rằng:

“Nay 2 bên tranh nước, long hổ giành nhau, họ bỗng đem cống vật đến cầu hòa, sự này không thể tin được!”, các quan tướng trong triều cũng khuyên vua nên đề phòng, nhưng Triệu Việt Vương không nghe vẫn quyết định gả con gái Cảo Nương cho con trai của Lý Phật Tử là Nhã Lang.

Buồn phiền, Chiêu Công bèn xin cáo quan về quê dành thời gian chăm sóc cha mẹ cho đến khi khuất núi, lại nghĩ đời có thịnh, có suy, xét thấy vua thì nhân từ ái mực còn Lý Phật Tử nhiều mưu mô, tất có ngày binh đao xảy ra, vì thế ông bỏ tiền của chiêu mộ gia thần, rèn đúc vũ khí, tích trữ lương thực phòng khi nước có biến sẽ dốc sức cứu giúp.

Còn Ngọc Nương, sống trong cung cấm, được vua sủng ái nhưng suốt 10 năm liền nhưng không sinh được người con nào bèn xin xuất gia tu Phật, Triệu Việt Vương biết khó giữ được người đẹp đành đồng ý cho nàng về quê gốc ở trang Bảo Đài, huyện Lôi Dương, châu Ái tu hành tại một ngôi chùa.

Ít lâu sau, vua lại cấp tiền bạc cho Ngọc Nương sửa sang ngôi chùa ở giáp Đường, trang Đặng Xá để làm nơi tu hành, lại còn truyền đặt pháp hiệu là Diệu Phương, tên tự là Pháp Tuân.

Năm Canh Dần (570), Triệu Việt Vương do chủ quan không phòng bị, khi quân của Lý Phật Tử tiến đánh đã thua trận nhanh chóng, ông chạy đến cửa biển Đại Nha thì tự tử.

Bấy giờ Chiêu Công nghe tin vua thua trận vội vã dẫn gần 2000 quân binh đến cứu giá, tới nơi thì nghe tin Triệu Việt Vương đã mất lại bị số đông quân của Lý Phật Tử bao vây, thế lực yếu không thể chống đỡ nổi, Chiêu Công liền gieo mình xuống sông Hồng tuẫn tiết. Cảm động về vị trung thần tiết nghĩa, sau này, nhân dân đã lập đền thờ Chiêu Công nay tại nơi ông mất.

Còn Ngọc Nương, dù ở chốn cửa thiền, xa rời cuộc sống trần tục nhưng bà vẫn quan tâm đến tình hình đất nước, nghe tin chồng rồi anh đều mất, lòng đau xót vô cùng bèn tắm gội sạch sẽ, ngồi tụng kinh niệm Phật sau đó uống thuốc độc tự vẫn mà chết, người dân giáp Đường thương tiếc người phụ nữ trung trinh đã tổ chức an táng chu đáo, lại dựng miếu thờ cúng.

Đến thời Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân có làm lễ khấn tại nơi thờ anh em Chiêu Công, Ngọc Nương xin âm phù thắng trận thấy linh ứng.

Sau khi nhà Đinh thành lập, tướng Đinh Điền dâng sớ tâu xin phong mỹ tự cho 2 thần, vua Đinh Tiên Hoàng đã sắc phong cho Chiêu Công làm Thượng đẳng phúc thần, hiệu là Phong Hiển linh ứng thông, Chiêu Thánh đô úy khang tiết đại vương; Ngọc Nương là Đoan Trinh quảng đức Diệu Phương, Pháp Tuấn từ bi Xuân Hoa công chúa”.

Leave A Reply

Your email address will not be published.