Let’s travel together.

Tài xử án như ‘Bao công’ của Nguyễn Mại

145

Sử sách ghi rằng, Quận công Nguyễn Mại là người văn võ song toàn, vị quan thanh liêm, chính trực, được người dân nể trọng và gọi là Bao Công của đất Việt. Nguyễn Mại sinh năm1655 và mất năm 1720. Ông quê làng Ninh Xá, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Năm 1691, khi ở tuổi 36, ông đỗ hoàng giáp (vị trí chỉ đứng sau trạng nguyên) và làm quan dưới triều vua Lê Hy Tông.

Lúc đầu, Nguyễn Mại làm quan ở bộ Lễ, sau được thăng chức Tả thị lang của bộ này. Ông được cử đi sứ nhà Minh, rồi làm Đốc trấn Cao Bằng, sau đổi về Đốc trấn Sơn Tây cho đến cuối đời. Ông mất năm 1720, thọ 66 tuổi, được truy tặng chức Lễ bộ Thượng thư, tước Quận công đời vua Lê Dụ Tông. Trong sách “Đại Nam nhất thống chí” có đoạn mô tả ông là người “có sức khỏe, có mưu lược, trộm cướp phải nín hơi, xét kiện sáng suốt, danh vọng rất cao”. Còn trong sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” thì viết: Mại là người khỏe mạnh, có mưu lược lại giỏi bắn cung và cưỡi ngựa. Trong đó cũng kể lại câu chuyện dũng khí của ông: Một hôm, Lễ Phiên đang bàn việc, bỗng có con voi bị xổng, từ ngoài đi vào, khiến cho ai cũng hoảng hốt bỏ chạy, duy chỉ có Nguyễn Mại là thần sắc không hề thay đổi, vẫn đứng tiếp tục trình bày công việc như thường.

Xử án đơn giản bằng mẹo “đọc vị tội phạm” có một không hai, Đốc trấn Sơn Tây Nguyễn Mại (thế kỷ 17) đã phát hiện nhanh ra thủ phạm, ai nấy đều nể phục.

Nguyễn Mại là người làng Ninh Xá, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Năm 37 tuổi, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu (1691), ra làm quan thời vua Lê Hy Tông. Lúc đầu, ông làm quan ở Bộ Lễ sau thăng chức Tả thị lang được cử đi sứ nhà Minh rồi làm Đốc trấn Cao Bằng, sau về Đốc trấn Sơn Tây đến cuối đời.

Giới quan chức cũng như người dân đều ca ngợi ông là vị quan thanh liêm, chính trực xét xử như “Bao thanh thiên”.

Cảnh xử án thời xưa. Ảnh minh họa.

Vả mặt người mất trộm truy ra kẻ cắp

Lúc làm quan ở Sơn Tây, Nguyễn Mại thường đi xuống các làng xem xét cuộc sống của họ. Trong lần vi hành, đi bộ ngang chợ Bảo Khám, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, ông thấy một người đàn bà luôn miệng nói tục, “bới” cả tổ tông ba đời nhà kẻ trộm ra chửi. Quan hỏi người dân mới biết bà này bị mất trộm một chiếc màn.

Ông gọi người đàn bà lại hỏi chuyện, rồi đột nhiên sai người trói bà, mắng về tội chửi chua ngoa. Sau đó, đàn ông, đàn bà trong xóm được gọi đến đủ. Nguyễn Mại sai từng người vả vào mặt người đàn bà mất trộm với lý do “đã chửi ngoa”. Dân làng ai nấy đều thương người mất trộm nên chỉ tát nhẹ. Chỉ riêng một phụ nữ xuống tay rất mạnh.

Chị ta vừa tát xong, quan Nguyễn Mại liền cho giữ lại tra xét, bảo rằng: “Ngươi chính là kẻ ăn trộm nên mới đánh người ta đau như thế”. Người phụ nữ này vội quỳ xuống nhận tội. Sử sách ghi lại, chính từ vụ án này mà người dân Sơn Tây coi ông như “Bao thanh thiên”. Sau khi ông mất họ còn làm cả thơ văn ca ngợi công đức, cách xử án như thần của vị quan thanh liêm.

Vụ án thóc nảy mầm trong tay

Vụ án thứ hai do ông Nguyễn Mại phân giải mà sử sách còn lưu truyền đến ngày nay là “dọa thóc trong tay nảy mầm tìm ra người ăn trộm”.

Một lần, Nguyễn Mại đi ngang qua ngôi chùa ở huyện Sơn Vi, nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, một nhóm ni cô báo có người bị mất chiếc áo lụa quý. Thấy vậy, quan sai lập đàn cúng. Các ni cô được giao mỗi người nắm một ít thóc, tay còn lại cầm tay kia của bạn rồi cùng chạy quanh đàn. Lúc các ni cô chuẩn bị chạy, ông nói “hễ là kẻ gian thóc trong tay lập tức khắc nảy mầm”. Chỉ một lúc quan sát chạy đàn, Nguyễn Mại thấy một ni cô thường lén mở tay ra nhìn, gương mặt bồn chồn lo lắng. Lúc đó, ông cho dừng, gọi nữ tu đó ra tra hỏi và cô nhận tội.

Bắt trai làng vét bùn tìm ra người trộm chuối

Vụ án thứ ba ông phân xử ở ngay làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Khi một người đàn bà chửi bới ầm ĩ vì mất trộm buồng chuối sắp đến ngày được ăn, ông tập trung hết trai làng, ra lệnh xuống ao làng vét bùn. Lúc cả nhóm nghỉ giải lao, ông lại sai phát cho mỗi người một miếng trầu để ăn. Đích thân ông xem phát trầu cho từng người và bàn tay của một thanh niên chìa ra có vết nhựa thâm.

Ông lệnh bắt ngay anh ta, nói rằng đây là vết tích của nhựa chuối, sau khi ngâm bùn mới hiện rõ trên tay, khó rửa sạch ngay. Người thanh niên nghe vậy đã không thể chối tội.

Chia đôi mảnh lụa để tìm kẻ gian

Một vụ trộm cắp khác được Nguyễn Mại phân xử cũng nhanh chóng tìm ra thủ phạm. Hôm đó, ông vi hành ra chợ Sơn Tây liền gặp một nhóm phụ nữ giằng co, cãi vã om sòm. Đến gần, ông thấy hai người đàn bà đang giằng nhau một tấm lụa. Cả hai đều gào lên nhận là chủ nhân, nói người kia là phường ăn cắp… Nguyễn Mại ngăn hai người này lại rồi xưng danh và sai cắt tấm vải làm đôi chia cho mỗi người một mảnh.

Lụa chia xong, ông quan sát thấy một trong hai phụ nữ vui vẻ ôm lụa bỏ đi nhanh, người còn lại đứng nguyên chỗ cũ ôm lụa nước mắt lưng tròng. Ngay lập tức, ông sai người đuổi theo bắt người đàn bà, trả mảnh lụa đã chia cho người còn lại. Người đàn bà bị bắt sau nửa ngày giam đã thú nhận mình là kẻ trộm.

Tìm kẻ giết trâu

Một hôm, có lão nông ở huyện Tam Đái trình báo về việc con trâu bị kẻ gian cắt lưỡi sắp chết, xin được mổ. Vào thời đó, để bảo đảm sản xuất, vua lệnh cho dân không được tự tiện giết trâu. Nếu nhà ai có trâu què, gầy yếu không cày bừa được thì phải trình báo lên huyện xin giết thịt, giết xong lại phải mang đầu trâu lên trình lần nữa để làm bằng chứng. Ai vi phạm sẽ bị phạt nặng.

Cũng chính vì luật ấy mà nếu xảy ra những chuyện xích mích, người ta thường hại nhau bằng cách lén giết trâu rồi đi trình báo quan. Nếu quan xét xử không công minh sẽ để lại những vụ án “tình ngay lý gian”, khiến người bị hại chịu oan uổng… Qua một lúc trò chuyện, Nguyễn Mại nhận thấy đây là người nông dân thật thà chất phác, lại nghe kể về những va chạm trong làng, trong xóm, quan Đốc trấn cảm thấy có kẻ muốn hại lão nông này. Nghĩ đoạn, Nguyễn Mại bảo với ông lão cứ về mổ trâu, lấy thịt đem bán, không cần báo lại quan huyện nữa.

Đúng như Nguyễn Mại lường đoán, ông lão vừa mổ xong con trâu thì huyện Tam Đái gửi ngay công văn kèm theo tờ đơn “vừa ăn cướp vừa la làng” của tên đã hại ông lão về tội “tùy ý giết trâu mà không trình báo”. Ngay lập tức, Nguyễn Mại sai lính bắt người tố cáo giải lên công đường. Tên này sau một hồi chối quanh co đành khai nhận vì ghen ghét với ông lão nên lén giết trâu, sau đó thông đồng với tri huyện để “vừa ăn cướp vừa la làng”, lại còn được lĩnh thưởng. Tri huyện Tam Đái cũng phải chịu phạt.

Bắt ni cô ăn trộm

Một lần khác, ở ngôi chùa lớn vùng Sơn Tây, các tăng, ni về tụ hội rất đông, lại xảy ra vụ mất trộm. Nhà sư trụ trì liền phái người đến dinh quan Đốc trấn trình báo và xin phân xử giúp. Không chậm trễ, Nguyễn Mại đến tận nơi xem xét và thấy vật bị mất là vật chỉ những người trong giới tu hành mới cần dùng đến. Hơn nữa, vật cũng chỉ mất khi các tăng, ni đến đây đông, nên không thể có kẻ gian là người ngoài giới tu hành lọt vào.

Nghĩ đoạn, ông liền cho tập hợp tất cả tăng, ni lại, bảo họ trồng cây phướn lớn và đốt hương. Sau đó, ông phát cho mỗi người một viên tràng hạt, bảo rằng: “Đây là tràng hạt lấy từ đền Sòng lại đã được niệm chú, nên nếu ai để rơi mất, ắt sẽ bị liên lụy đến tính mạng”. Rồi ông lại bảo các tăng, ni đi vòng quanh cây phướn và lò hương, vừa đi vừa tụng kinh và giữ lấy viên tràng hạt. Bản thân ông thì đứng ở thềm chùa, tay chắp còn miệng lẩm bẩm như thể đang tụng kinh, nhưng mắt lại chú ý quan sát tăng, ni đang dạo quanh cây phướn. Nguyễn Mại nhận thấy một ni cô cứ thỉnh thoảng lại giở viên tràng hạt ra xem và cử chỉ có phần như giấu giếm. Lập tức, ông bảo mọi người dừng cả lại, rồi ra lệnh bắt ni cô kia. Sau khi ông trực tiếp xét hỏi, người ấy thú nhận là kẻ trộm.

Ngoài những vụ án phân xử công minh, Nguyễn Mại còn có tài năng và đức độ cảm hóa lòng người. Khi còn là Đốc trấn Cao Bằng, ông từng phải đối phó với giặc cướp từ Quảng Tây tràn sang. Nhận thấy đám giặc phì thực ra chỉ là nông dân nghèo, vì quá đói khổ nên mới tìm đường trộm cướp. Ông chỉ hạ lệnh bắt rồi thả chứ không xét xử, thậm chí có lần còn cung cấp lương thực trước khi trả về. Cứ như vậy, 3 lần bắt rồi thả, đám giặc phì phương Bắc cảm động ân đức mà thôi không quấy nhiễu.

Về sau khi làm quan trấn Sơn Tây, công sở của ông bất ngờ bị cháy. Đám cháy lan sang cả nhà ngục, nơi giam giữ những bọn “đầu trộm đuôi cướp” của xứ Đoài. Ông không ngần ngại sai người mở cửa ngục, thả tất cả tù nhân ra ngoài. Mặc dù có cơ hội lẩn trốn, tìm đường đào tẩu, nhưng bất ngờ là tất cả tù nhân đều cùng nhau dập lửa. Sau đó, không ai bảo ai, bọn họ đều trở lại trại giam không sót một ai. Nguyễn Mại phải có một tâm hồn cao thượng và một tài năng đức độ đến nhường nào thì mới có thể cảm hóa những kẻ được gọi là “lưu manh vô lại” ấy.

Lời bàn:

Từ nội dung của giai thoại nêu trên, hậu thế mới biết Nguyễn Mại phải là người có một tâm hồn cao thượng, một tấm lòng vì sự bình yên của nhân dân và một tài năng đức độ đến nhường nào thì mới có thể cảm hóa những kẻ được gọi là “lưu manh vô lại”. Cũng chính vì vậy mà sử sách nhắc đến ông như một vị quan văn võ song toàn, quan lại cùng thời ca tụng ông là “bậc thần giáng Hải Đông”, là “quý nhân Nam quốc”, còn dân gian thì tôn vinh ông là Bao Công nơi đất Việt.

Tiếc rằng, tuy nổi tiếng là vị quan thanh liêm, cương trực, trong cuộc đời làm quan đã lập nhiều công trạng hiển hách, nhưng cuối đời ông lại chịu nhiều oan khiên và chết trong bí ẩn. Có tài liệu nói là vì mạo phạm trong việc can gián chúa Trịnh mà ông đã bị ám sát khi còn đương chức. Nhiều năm sau khi Nguyễn Mại qua đời, xã hội tao loạn, 2 hậu duệ của ông cầm quân khởi nghĩa chống lại triều đình. Vì lý do này mà mộ Nguyễn Mại bị đào lên, xương cốt ném xuống sông và bản thân ông cũng bị thêu dệt nhiều chuyện thị phi. Nhưng dẫu sự đời đổi trắng thay đen đến đâu thì người dân xứ Đoài vẫn không quên truyền tai nhau những giai thoại đẹp về một tấm lòng trong sạch, một tài năng đức độ, một vị quan thanh liêm sáng suốt và một vị Bao Công của nước Việt lưu danh ngàn đời. Và đây mới là giá trị đích thực của một cuộc đời.

Leave A Reply

Your email address will not be published.