Let’s travel together.

Về Ninh Thuận khám phá kiến trúc tháp Po Rome độc đáo

137

Nằm cách trung tâm thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (Ninh Thuận) khoảng 15 km, tháp Po Rome nằm trên ngọn đồi thuộc thôn Hậu Sanh, xã Phước Hữu (Ninh Phước). Tháp được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ XVI đầu thế kỷ thứ XVII.

Tháp được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia vào năm 1992. Tháp Po Rome là nơi được đồng bào Chăm thường xuyên tổ chức những lễ hội và ngày tết cổ truyền của dân tộc.

Vị thần xây dựng bằng đá.

Công trình gồm 2 tháp, tháp chính và tháp phụ. Tháp chính thờ vua Po Rome – một trong những vị vua được người Chăm hóa thần và tháp phụ thờ hoàng hậu.

Mặt chính của tháp quay về hướng Đông, trên cửa chính có các tầng hình vòng cung, dưới các hình vòng cung được trang trí bởi hình tượng thần Siva và hình ngọn lửa. Ở các cửa giả có hình các vị thần bằng đá trong tư thế ngồi. Bên trong tháp là tượng vua Po Rome bằng đá cao 1,2m, được tạo từ một linga có 8 tay đặt dưới một cái tán bằng gỗ.

Pô Rômê – khúc bi ca nơi tháp cổ

Ở làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, trên một ngon đồi cao 50 met, sừng sững ngạo nghễ một tòa tháp cổ Chămpa: tháp Pô Rômê.

Pô Rômê là tên một vị vua Chăm đã được thần hóa, và được thờ trong ngôi tháp này (nên người dân gọi tên tháp theo tên vua). Biên niên sử người Chăm ghi vua Pô Rômê trị vì từ 1627 đến 1651 (thời kỳ này Chămpa đã là phiên thuộc của Việt Nam). Ông vốn là một mục đồng, được vua Mahataha gả con và sau đó lên ngôi vua, nên dân chúng vẫn thường gọi ông là ông vua mục đồng.

Là ông vua có công với đất nước nên vua Pô Rômê được thờ cúng trong tháp. Hiện nay trong tháp còn tượng đá của ông, cao 1,2 met và hằng năm vào những ngày lễ, tết người Chăm vẫn thường xuyên làm lễ cầu khấn.

Cũng ở tháp, có 2 pho tượng phụ nữ, đó là 2 hoàng hậu vợ vua. Bên trong tháp là tượng hoàng hậu người Chăm tên Pô Bia Sancan, người đã nhảy vào giàn thiêu chết theo vua. Bên ngoài tháp là tượng hoàng hậu Sucih người Khmer, người không chết theo vua.

Thế nhưng Pô Rômê có đến 3 hoàng hậu, và người mà vua yêu nhất – hoàng hậu Bia Út – thì lại không có bức tượng nào ở tháp cả. Vi sao vậy?

Hoàng hậu Bia Út là một người Việt Nam. Nàng là công nữ Ngọc Khoa, con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Như Huyền Trân đời Trần được gả cho Chế Mân, nhưng câu chuyện về Ngọc Khoa (hoàng hậu Bia Út) không được sử Việt nhắc đến nhiều. (Như người chị của Ngọc Khoa là công nữ Ngọc Vạn được gả cho vua Miên, cả hai người đều không hề được ghi tiểu sử trong chính sử triều Nguyễn).

Sử Việt không nhắc, nhưng người dân Chăm không quên…

Từ khi thành hoàng hậu, nàng Bia Út bắt đầu dò la bí mật cung đình Chiêm thành cho vua cha. Nàng biết được vương quốc Chiêm Thành còn tồn tại được là nhờ cây krết trong hoàng cung che chở.

Một hôm Bia Út giả vờ lâm bệnh nặng, khiến vua Pô Rômê vô cùng lo lắng. Nàng đổ cho cây krết làm hại nàng, và phải đốn cây thiêng ấy đi nàng mới khỏi bệnh.

Vua Pô Rômê hỏi ý kiến các pháp sư. Mọi người đều không đồng ý, nhưng vì quá yêu Bia Út vua vẫn quyết định cho chặt cây krết.

Suốt ba ngày liền, dù chặt thế nào cây krết vẫn đứng vững, vì vết chặt liền lại ngay. Vua Pô Rômê đùng đùng nổi giận, đích thân cầm búa chặt cây. Sau ba nhát búa trời giáng của vua, cây krết rên rỉ đổ xuống, máu từ thân cây tuôn ra như suối.

Nàng Bia Út khỏi bệnh, nhà vua hân hoan vui mừng, nhưng thần dân nước Chiêm đau đớn vì cây hộ mệnh cho đất nước không còn nữa.

Ít lâu sau, hoàng hậu Bia Út mượn cớ mẹ già ở nước Việt đau ốm phải về thăm. Ít lâu sau nữa, một đoàn quân của chúa Nguyễn theo đường biển tiến đánh Chămpa.

Vua Pô Rômê thua trận và bị bắt nhốt trong cũi sắt. Khi ông chết đi, thi hài được mang về nước hỏa táng theo tập tục.

Nước Chămpa suy sụp dần. Hơn 40 năm sau, năm 1693 Nguyễn Hữu Cảnh đánh bại lực lượng Chămpa cuối cùng. Chúa Nguyễn đổi tên Chiêm Thành Quốc thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận Thành Trấn thành Bình Thuận Phủ. Chiêm Thành không còn nữa!



Người Chăm vẫn cho rằng hoàng hậu Bia Út – nàng Ngọc Khoa – là một trong những nguyên nhân làm vong quốc và oán hận không nguôi. Còn vua Pô Rômê, không biết hồn thiêng của ông trong ngôi tháp cổ ấy có u uất chăng với cuộc tình oan trái.


Hậu thế đứng bên tháp cổ chỉ còn biết bùi ngùi hoài niệm…

Rừng trầm cô tịch, đèo cao thác sâu
Đồi hoang suối reo, hoang vắng cheo leo
Ngàn muôn tiếng âm. Tháng, năm buồn ngân…
Âm thầm hòa bài hận vong quốc ca.

Người xưa đâu? Mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu.
Lầu các đâu?Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu.

Leave A Reply

Your email address will not be published.