Let’s travel together.

Vị Vua nào được gọi là Vua Đen

252

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, vị vua được gọi là “Vua Đen” chính là Mai Hắc Đế tên thật là Mai Thúc Loan là vị vua người Việt thời Bắc thuộc, anh hùng dân tộc, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại sự chiếm đóng của nhà Đường ở Việt Nam vào đầu thế kỉ thứ 8. Có sách ghi, ông lấy hiệu này vì mang màu da đen đặc trưng, có tài liệu lại cho rằng, vì ông mệnh thủy mà nước tượng trưng cho màu đen.

Thời thơ ấu

Mai Thúc Loan sinh vào khoảng cuối thế kỷ 7, tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu, nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An. Theo Việt điện u linh, cha của Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Thạch Hà – Hà Tĩnh, lưu lạc sang vùng Nam Đàn – Nghệ An.

Theo sách Việt sử tiêu án, Mai Thúc Loan là người làng Hương Lãm, huyện Nam Đường, nay là thị trấn Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, dân lập đền thờ ông ở thôn chợ Sa Nam.

Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi lấy củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất. Ông được người bạn của bố là Đinh Thế đem nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi đô vật, học rất giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó “gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông”.

Nhờ chí du ngoạn lại được vợ hết lòng ủng hộ, Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt, sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của ông như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tân,…

Với sự kêu gọi của Mai Thúc Loan, đông đảo người dân đã tham gia khởi nghĩa. Năm 713, nghĩa quân nhanh chóng chiếm được Hoan Châu. Nhân dân các vùng lân cận như Ái Châu (Thanh Hóa), Diễn Châu (Nghệ An) cũng nổi dậy hưởng ứng, quần tụ dưới cờ của Mai Thúc Loan.

Khởi nghĩa

Bối cảnh:

Trước khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, nhà Đường chia Giao Châu thành những đơn vị hành chính nào?

Cuốn Lịch sử Việt Nam (tập 1, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2017) viết, nhà Đường chia đất Giao Châu (khi ấy lấy tên là An Nam đô hộ phủ) ra làm 12 châu, 59 huyện. Địa bàn khi ấy kéo dài từ Bắc Bộ đến Đèo Ngang ngày nay và một phần đất phía nam tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc).

Mỗi châu đều đặt Thứ sử là người Trung Quốc cai quản. Bên dưới cấp huyện nhà Đường chia thành các hương, do người Việt quản. Tiểu hương từ 70 đến 150 hộ; đại hương 150-540 hộ. Dưới hương là xã, tiểu xã có 10-30 hộ, đại xã 40-60 hộ.

Đối với vùng thượng du, nhà Đường đặt ra các châu mi (ràng buộc lỏng lẻo). An Nam đô hộ phủ có 41 châu mi. Năm 791, nhà Đường lập ra Phong Châu đô hộ phủ và Hoan Châu đô hộ phủ kiêm quản một số châu cơ mi khác.

Nhà Đường đã đặt ra chế độ cai trị như thế nào cho An Nam?

nhà Đường bắt các châu huyện thuộc An Nam hàng năm phải cống nạp nhiều loại lâm thổ sản quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác, đồi mồi, ngọc trai, trầm hương, vàng, bạc… Các sản phẩm thủ công địa phương như tơ lụa, sa, the, đồ mây… cũng phải nộp cho nhà Đường. “Cống phẩm của mỗi châu trị giá bằng 50 tấm lụa”, sách viết.

Bên cạnh chế độ cống nạp, nhà Đường con thu thêm nhiều loại tô thuế như: thuế ruộng đất (tô), thuế lao dịch (dung), thuế thân (điệu)… “Theo phép tô, dung, điệu thì đinh nam có ruộng quân điền, hàng năm phải nộp tô hai thạch lúa, phải nộp thuế điệu bằng 2 tấn lụa, 2 trượng lĩnh, the, 3 lượng bông và phải chịu sai dịch (dung). Đinh nam mỗi năm chịu sai dịch 20 ngày, không ứng dịch thì cứ mỗi ngày nộp 2 thước lụa”, sách viết.

Các mặt hàng muối và sắt đặc biệt bị thu thuế rất nặng. Mỗi năm, người dân vùng châu Lục (Lạng Sơn) chủ yếu sống bằng nghề nấu muối và mò ngọc châu, phải nộp khoản thuế cố định là 100 hộc gạo mỗi hộ.

Diễn biến

Năm Giáp Dần (714), Mai Hắc Đế tiến binh đánh thành Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Thái thú nhà Đường là Quang Sở Khách cùng đám thuộc hạ không chống cự lại được, phải bỏ thành chạy về nước. Lực lượng Mai Hắc Đế lúc đó lên tới chục vạn quân[6][7].

Nhà Đường bèn huy động 10 vạn quân do tướng Dương Tư Húc và Quang Sở Khách sang đàn áp. Quân quan nhà Đường tiến theo đường bờ biển Đông Bắc và tấn công thành Tống Bình. Sau nhiều trận đánh khốc liệt, từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Lam, cuối cùng Mai Hắc Đế thất trận, thành Vạn An thất thủ, nghĩa quân tan vỡ. Không đương nổi đội quân xâm lược, Mai Hắc Đế phải rút vào rừng, sau bị ốm rồi mất.

Như vậy, Mai Hắc Đế đã giữ quyền tự trị cho An Nam được gần 10 năm (từ 713 đến 722). Cuộc khởi nghĩa do ông khởi xướng và lãnh đạo được đánh giá là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn nhất ở nước ta thời Bắc thuộc.

PGS Vũ Duy Mền (Viện Sử học Việt Nam), trong cuốn Lịch sử Việt Nam (tập 1, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2017) đã nhận xét: Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 713-722 đã tiếp nối tinh thần dân tộc độc lập, tự chủ, không chịu sự áp bức ngoại bang của nhân dân Giao Châu. Tuy cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị đàn áp, song tinh thần bất diệt đó cùng với các cuộc khởi nghĩa khác, đã góp phần tạo nên một cao trào phản kháng mạnh mẽ của nhân dân Giao Châu trong giai đoạn cuối thời kỳ Bắc thuộc.

Tưởng nhớ công lao của Mai Hắc Đế, nhân dân đã lập đền thờ ông trên núi Vệ Sơn và thung lũng Hùng Sơn (Nam Đàn, Nghệ An). Tại đền có bài thơ ca ngợi công đức ông:

Hùng cứ Hoan Châu đất một vùng
Vạn An thành lũy khói hương xông
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức
Trăm trận Lý Đường phục võ công.

Ở Hà Nội cũng có một con phố thuộc quận trung tâm là Hai Bà Trưng, được đặt theo tên vị “Vua đen”.

 

 

Leave A Reply

Your email address will not be published.